BẢN TIN THƯ VIỆN

< Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Ảnh ngẫu nhiên

Z7823820082666_caaae6fe79ca60cb44e9e5d76b62412e.jpg Z7823820130051_0321b7708d838300e6006bf8e0957e76.jpg Z7823820131209_f1689107c958881a99d34b2152d67eb9.jpg Z7823456397470_ed821629a0cf0617e3d5c7d1cbff4b72.jpg Z7823456394638_dd1fa374881a757e78f199dbeaeb4f54.jpg Z7823456390823_73b11f9ae28a151b652d6dec42fa3c60.jpg Z7823456385433_15f353519eba1ee4d705743960994a6c.jpg Z7823456381301_d8db2edf49f0220e067c5320958e293e.jpg Z7823456372930_cbf4864ff6ac10c43a15f63e45663b69.jpg Z7823456376796_36ea10fb00984bd68d0b482748157aeb.jpg Z7823456371273_3d71a053520f4b2f4b7f9a3a62d3c193.jpg Z7823456371269_c4d9d16f30e45b06359760bb0f39eba3.jpg Z7823456370090_06210b05f64d0c953583c696f15a5732.jpg Z7823456365615_b3f060a277a54b764bed00d741973a73.jpg Z7823456357106_298d57c323847103dc9543c25cbbefc0.jpg Z7823456356898_af25c063609eab7c2c494f553b56a46b.jpg Z7823456345612_93027b126bb57c1037257d8988d29a03.jpg Z7823456345511_32023301a5d33648d10b31165dc1e7f3.jpg Z7823456335415_47e42f23e3eb7e63d8007725186a20eb.jpg Z7823456331386_08eddb367dacaac3057124ca8d65c85e.jpg

NÉT ĐẸP VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    BÀI CA THƯ VIỆN

    SÁCH NÓI AUDIOBOOK

    TỦ SÁCH PHÁP LUẬT

    CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Bài tuyên truyền về ngày sách và văn hóa đọc 21/4/2026

    BÀI DỰ THI ĐẠI SỨ VĂN HÓA ĐỌC TỈNH BẮC NINH NĂM 2026. CHỦ ĐỀ SÁCH VÀ ƯỚC MƠ VƯƠN XA

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TH&THCS LƯU THÚC KIỆM !

    30/4/1975 - Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Giải Phóng Miền Nam | Tự Hào Việt Nam

    CHÂN DUNG MỘT CON NGƯỜI

    Các đề luyện thi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Kiều Nga
    Ngày gửi: 21h:13' 03-02-2026
    Dung lượng: 70.4 KB
    Số lượt tải: 57
    Số lượt thích: 0 người
    TUẦN 19

    TIẾT 37, 38

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    KHÁT VỌNG CÔNG LÝ ( TRUYỆN THƠ NÔM)

    I. PHẦN ĐỌC – HIỂU ( 6,0 điểm)
    Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN
    ... Vân Tiên mình lụy giữa dòng
    Giao long dìu đỡ vào trong bãi rày.
    Vừa may trời đã sáng ngày,
    Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ
    Hối con vầy lửa một giờ,
    Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.
    Vân Tiên vừa ấm chơn tay,
    Ngẩn ngơ hồn phách như say mới rồi.
    Ngỡ thân mình phải nước trôi,
    Hay đâu còn hãy đặng ngồi dương gian.
    Ngư ông khi ấy hỏi han,
    Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa.
    Ngư rằng: “Người ở cùng ta,
    Hôm mai hẩm hút với già cho vui”
    Tiên rằng: “Ông lấy chi nuôi,
    Thân tôi như thể trái mùi trên cây.
    Nay đà trôi nổi đến đây,
    Không chi báo đáp mình nầy trơ trơ”.
    Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ,
    Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?...
    (Trích Truyện Lục Vân Tiên- Nguyễn Đình Chiểu Sách Ngữ văn 9 tập 1
    NXB Giáo dục 2015 trang 119)
    *Chú thích
    - Lụy : chịu lấy hậu qủa việc làm của người khác, ở đây ý nói bị hại.
    - Giao long: con rồng nước hay gây sóng dữ. Ở vùng sông Cửu Long, cá sấu cũng gọi là giao
    long. Để cho giao long cứu Vân Tiên, ý tác giả muốn nói: Vân Tiên là người hiền đức mà bị hãm hại,
    ngay đến giao long loài thú dữ cũng phải cảm thương mà giúp đỡ.
    - Vầy lửa: đốt lửa, nhóm lửa
    - Hẩm hút (từ cổ): chỉ những thức ăn đạm bạc của người nghèo ( hẩm: hư hỏng, biến chất, biến
    màu; hút: chỉ gạo không trắng). Ở đây ông Ngư ngỏ ý mời Vân Tiên ở lại nhà mình, cùng chia sẻ rau,
    cháo...
    - Trái mùi: trái cây trái cây quá chín, đã nẫu, ý nói trái cây chín nẫu tất phải rụng, mình bệnh tật
    nhiều, không biết chết khi nào, sẽ phụ công ơn ông Ngư.

    Câu 1.(1.0 điểm) Xác định thể loại của văn bản.
    Câu 2.(1.0 điểm) Tìm lời dẫn trực tiếp trong đoạn thơ sau:

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    1

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    Ngư ông khi ấy hỏi han,
    Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa.
    Ngư rằng: “Người ở cùng ta,
    Hôm mai hẩm hút với già cho vui”
    Tiên rằng: “Ông lấy chi nuôi,
    Thân tôi như thể trái mùi trên cây.
    Nay đà trôi nổi đến đây,
    Không chi báo đáp mình nầy trơ trơ”
    Câu 3. (1,0 điểm) Tóm tắt nội dung chính của đoạn trích trên.
    Câu 4. (1,0 điểm) Nêu thái độ của tác giả gửi gắm trong đoạn trích.
    Câu 5. (2,0 điểm) Hãy nhận xét đánh giá việc làm nhân nghĩa của Ngư ông trong
    đoạn trích.
    II. PHẦN VIẾT ( 4,0 điểm)
    Viết bài văn trình bày cảm nhận về nhân vật Ngư ông trong đoạn trích ở phần
    Đọc- Hiểu.
    GỢI Ý TRẢ LỜI
    II. PHẦN VIẾT
    1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, nhân vật Ngư ông và đoạn trích, việc làm của Ngư ông trong
    đoạn trích.
    2. Thân bài: Nêu cảm nhận về nhân vật Ngư ông trong đoạn trích.
    - Hành động đẹp:
    Vừa may trời đã sáng ngày,
    Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ
    Hối con vầy lửa một giờ,
    Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.
    Hành động cứu người khẩn trương, dứt khoát không đắn đo tính toán “ vớt ngay lên
    bờ” “Hối con vầy lửa” “ Ông hơ bụng...” “mụ hơ mặt..”. Việc làm thể hiện tình cảm chân
    thành không vụ lợi của Ngư ông và gia đình. Tình cảm ấy cao đẹp và trân trọng mang tính
    nhân văn. Vân Tiên qua cơn hoạn nạn, cảm kích tấm lòng nhân nghĩa Vân Tiên kể rõ hoàn
    cảnh bất hạnh của mình và bày tỏ lòng biết ơn.
    - Tấm lòng nhân nghĩa:
    Ngư rằng: “Người ở cùng ta,
    Hôm mai hẩm hút với già cho vui”
    .... Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ,
    Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?...
    Ngôn từ giản dị mang đậm phong vị Nam Bộ, lời nói của Ngư ông là tấm lòng hào
    hiệp nhân nghĩa, sẵn sàng chăm sóc cưu mang khi gặp người hoạn nạn. Cuộc sống lao
    động dù khó khăn vất vả nhưng ông vẫn sẵn lòng, dang rộng vòng tay với tinh thần tự
    nguyện, vô tư không cần báo đáp. Đó là tấm lòng của người lương thiện, thể hiện tinh thần
    nhân đạo, tư tưởng nhân nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm trong đoạn trích.
    3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của nhân vật và nêu cảm nghĩ của bản thân.

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    2

    TUẦN 20

    TIẾT 39, 40

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    KHÁT VỌNG CÔNG LÝ( TRUYỆN THƠ NÔM)

    I.PHẦN ĐỌC – HIỂU ( 6,0 điểm)
    Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
    Đầu lòng hai ả tố nga,
    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
    Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
    Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
    Vân xem trang trọng khác vời,
    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
    Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
    Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
    So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
    Làn thu thủy, nét xuân sơn,
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
    ...
    (Trích “Chị em Thuý Kiều” – Truyện Kiều – Nguyễn Du)
    Câu 1. (1,0 điểm)Xác định thể thơ của văn bản.
    Câu 2. (1,0 điểm)Nhân vật Thuý Vân được miêu tả ở những phương diện nào? Chỉ rõ tên
    những phương diện ấy.
    Câu 3. (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp nhân hoá trong những dòng thơ sau:
    Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
    So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
    Làn thu thủy, nét xuân sơn,
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    Câu 4. (1,0 điểm) Nêu ngắn gọn nội dung đoạn thơ trên.
    Câu 5. (2,0 điểm)Từ những dòng thơ miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân và Thuý Kiều ở phần
    Đọc hiểu, em cần có trách nhiệm gì trong việc gìn giữ vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam
    trong cuộc sống hôm nay?
    II. PHẦN VIẾT ( 4,0 điểm)
    Viết bài văn nghị luận trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp và tài năng của nhân
    vật Thuý Kiều trong đoạn trích “ chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du
     

    Chị em Thúy Kiều
    Đầu lòng hai ả tố nga,
    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
    Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
    Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    3

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    Vân xem trang trọng khác vời,
    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
    Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
    Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
    So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
    Làn thu thủy, nét xuân sơn,
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
    Thông minh vốn sẵn tính trời,
    Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
    Cung thương làu bậc ngũ âm,
    Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
    Khúc nhà tay lựa nên chương,
    Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
    Phong lưu rất mực hồng quần,
    Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
    Êm đềm trướng rủ màn che,
    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
    GỢI Ý TRẢ LỜI
    II .PHẦN VIẾT
    1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
    - Nguyễn Du là đại thi hào, nhà thơ thiên tài của dân tộc, ông đã có nhiều đóng góp
    cho kho tàng văn học dân tộc.
    - Truyện Kiều là kiệt tác bất hủ viết về cuộc đời của Thúy Kiều - người con gái tài
    hoa bạc mệnh.
    - Giới thiệu đoạn trích Chị em Thúy Kiều: Đoạn trích viết về vẻ đẹp nhan sắc cùng
    tài năng của hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều đặc biệt là sắc đẹp và tài năng của Kiều.
    2. Thân bài
    * Khái quát về đoạn trích:
    -Vị trí: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Thuý Kiều.
    - Giá trị nội dung: Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” đã ca ngợi vẻ đẹp của hai chị em
    Thúy Vân, Thúy Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng và cùng dự cảm về số phận tương lai
    khác nhau của họ.
    * Luận điểm 1: Vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều
    - "Kiều càng sắc sảo mặn mà" -> Thúy Kiều mặn mà về tâm hồn, sắc sảo về trí tuệ

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    4

    thu

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    - "làn thu thủy": vẻ đẹp của đôi mắt trong veo, êm dịu, đượm buồn như nước hồ mùa

    - "nét xuân sơn": vẻ đẹp của đôi lông mày như nét bút vẽ núi mùa xuân trong bức
    tranh thủy mặc.
    -> Tác giả sử dụng lối ước lệ tượng trưng để đặc tả riêng đôi mắt trong sáng, long
    lanh của Kiều.
    => Thúy Kiều gợi lên là trang tuyệt thế giai nhân với vẻ đẹp "nghiêng nước nghiêng
    thành" khiến thiên nhiên phải ganh ghét, đố kị: hoa ghen, liễu hờn.
    => Dự cảm về số phận, cuộc đời lênh đênh sau này.
    * Luận điểm 2: Tài năng của Thúy Kiều
    - Cái tài của Thúy Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến:
    cầm, kì, thi, họa "Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm"
    - Kiều am hiểu mọi thứ nhưng nổi bật nhất là thi ca, cầm chương: "Nghề riêng ăn
    đứt hồ cầm một chương"
    - Đặc biệt cung đàn bạc mệnh của nàng là tiếng lòng của trái tim đa sầu, đa cảm:
    "Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân".
    -> Dự báo cuộc đời, vận mệnh bi kịch của nàng như khúc đàn "Bạc mệnh".
    => Chân dung Thúy Kiều khiến tạo hóa ganh ghét, tài hoa thiên bẩm, tâm hồn đa sầu
    đa cảm dự báo số phận trắc trở, nghiệt ngã đầy sóng gió bởi “Chữ tài chữ mệnh khéo là
    ghét nhau”.
    => Số phận chung của người phụ nữ xưa phải chịu những tủi cực, khó khăn, sự bất
    công của xã hội. Cuộc đời của họ như tấm lụa đào phất phơ giữa chợ, như thân bèo trôi nổi
    vô định không biết trôi dạt về đâu.
    * Đặc sắc nghệ thuật
    - Nghệ thuật miêu tả ước lệ tượng trưng.
    - Sử dụng miêu tả khái quát cùng biến hóa, uyển chuyển tạo hứng thú với chân dung
    nhân vật.
    - Nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo, đặc biệt là những từ có giá trị gợi tả cao.
    - Nghệ thuật lấy điểm tả diện, đòn bẩy.
    - Các biện pháp so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đối xứng, liệt kê...
    3. Kết bài
    - Khái quát lại vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều trong đoạn trích.
    - Nêu cảm nhận của em.
    TUẦN 21 TIẾT 41, 42 KHÁT VỌNG CÔNG LÝ( TRUYỆN THƠ NÔM)
    I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm).
    Đọc văn bản sau:

    Lược dẫn: Tú Uyên là một thư sinh nghèo, cha mẹ mất sớm. Một lần đến Bích Câu, thấy phong
    cảnh đẹp chàng bèn làm nhà ở đấy để học. Một hôm nhân tiết xuân, Tú Uyên đi chơi hội chùa Ngọc Hồ,
    nhặt được một chiếc "lá hồng" có đề một câu thơ. Chàng định họa lại thì thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp xuất
    hiện trước cửa tam quan. Cô gái ấy là Giáng Kiều, một nàng tiên giáng trần. Đoạn trích dưới đây nói về
    cuộc gặp gỡ ấy.

    Thấy người trước cửa tam quan
    Theo sau ba bảy con hoàn nhởn nhơ

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    5

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9

    Lạ lùng con mắt người thơ
    Hoa còn phong nhụy, trăng vừa tròn gương
    Rành rành xuyến ngọc thoa vàng
    Quần Nghê tha thướt, sóng Tương rườm rà
    Yêu kiều nét ngọc làn hoa
    Cá chìm mặt nước, nhạn sa lưng trời
    Gần xem vẻ mặt thêm tươi
    Mùi hương thoang thoảng thơm rơi ít nhiều
    Làn thu lóng lánh đưa theo
    Não người nhăn chút lông nheo cũng tình
    Vốn mang cái bệnh Trương sinh(1)
    Gặp người nghiêng nước nghiêng thành biết sao?
    Đưa tình một nét sóng đào
    Dẫu lòng sắt đá cũng xiêu, lọ người
    Nhân duyên ví chẳng tự trời
    Từ lang(2) chưa dễ lạc vời non tiên.
    (Trích Bích Câu kì ngộ, Đinh Gia Thuyết đính chính và chú thích,
    Cổ văn Việt Nam, 1952)
    (1)Trương sinh: Trương Quân Thụy dan díu với nàng Thôi Oanh Oanh (Tây sương
    ký), ý nói kẻ si tình.
    (2)Từ lang: Từ Thức, người Tống Sơn, Thanh Hóa, đời nhà Trần làm tri huyện Tiên
    Du, đi xem hội mẫu đơn chùa Phật Tích (Bắc Ninh), gặp một nữ lang lỡ tay bẻ gẫy cành
    hoa, bị nhà chùa giữ lại bắt đền, Từ thương tình cởi áo ra chuộc cho về. Sau Từ thôi quan
    về quê, qua Nga Sơn gặp lại nữ lang, tức tiên nữ Giáng Hương. Nay ở Nga Sơn còn một
    cửa hang gọi là động Từ Thức, tương truyền là nơi Từ Thức gặp tiên.
    Thực hiện yêu cầu:
    Câu 1 (1,0 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên?
    Câu 2 (1,0 điểm)Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào để miêu tả vẻ đẹp của nhân vật?
    Câu 3 (1,0 điểm). Em hãy lí giải vì sao tác giả gọi cuộc gặp gỡ nói trên của chàng trai và
    cô gái là một cuộc kì ngộ?
    Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về sự kết hợp giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn
    trích?
    Câu 5 (2,0 điểm). Qua đoạn trích, ta có thể rút ra được nhận xét gì về quan niệm thẩm mỹ
    thời xưa?
    II. PHẦN VIẾT (4,0 điểm)
    Viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của
    truyện ngắn “Chiếc cúc áo của mẹ” của Nhất Băng.
    CÚC ÁO CỦA MẸ
    Nhất Băng (Trung Quốc)
    Cậu còn nhớ sinh nhật 12 tuổi. Vừa sáng tinh mơ, đã nghe thấy mẹ nói: “Con trông
    đây là cái gì?”. Cậu mở to mắt, trước mặt là một chiếc áo mới, kiểu quân phục như cậu
    từng mơ ước, hai hàng cúc đồng, trên vai áo có ba vạch màu xanh, đó là mốt quần áo
    “thịnh hành” trong học sinh. Cậu bỗng mừng rơn, vội mặc áo quần. Cậu muốn đến lớp, ra
    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    6

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    oai với các bạn. Từ nhỏ đến lớn, cậu toàn mặc quần áo cũ của anh, vá chằng vá đụp nữa!
    Quả nhiên đúng như dự kiến, khi cậu bước vào lớp, ánh mắt của các bạn đều trố lên. Các
    bạn đều không ngờ được rằng, cậu bạn lúc nào cũng mặt mày lọ lem, đầu bù tóc rối bụi
    bặm cũng có lúc vẻ vang rạng rỡ như thế.
    Cậu hoàn thành tiết học đầu tiên một cách vui vẻ, hởi lòng hởi dạ. Trong giờ giải lao,
    các bạn đều vây quanh cậu. Có bạn bỗng hỏi: “Ô hay! Tại sao khuy áo của bạn không
    giống của chúng mình nhỉ?”
    Lúc ấy, cậu mới nhìn kỹ cúc áo của mình, quả thật không giống cúc áo của người
    khác, hai dãy thẳng đứng. Còn cúc áo của cậu lại nghiêng lệch, hai dãy xếp thành hình
    chữ “vê” (V).
    Các bạn bỗng đều cười òa lên. Thì ra, chỗ đính khuy trên chiếc áo trắng của cậu là
    một miếng vải cũ màu vàng. Cậu cũng hiểu ra, chắc là mảnh vải mẹ mua không đủ may
    áo, đành phải lót bên trong bằng mảnh vải khác, sợ người khác nhìn thấy cúc áo đành
    phải đính sang bên cạnh. Và cũng để người khác không nhìn thấy, mẹ đã khéo léo đính
    chéo hàng cúc kia, tự nhiên thành hình chữ “vê” (V).
    Biết rõ sự thực, các bạn lại giễu cợt, khiến cho lửa giận bốc lên ngùn ngụt trong lòng
    cậu. Buổi trưa về đến nhà, cậu cắt nát vụn chiếc áo mới của mình. Mẹ cậu lao đến trước
    mặt con, giơ cao tay, nhưng cuối cùng không giáng xuống. Cậu liếc nhìn, thấy nước mắt
    mẹ chảy quanh trong khóe mắt, vội quay đầu chạy biến…(...) Từ hôm ấy trở đi, mẹ làm
    việc ít nghỉ tay. Cậu tận mắt thấy mẹ gầy sọp đi, thấy mẹ nằm bẹp rồi ra đi mãi mãi… Cậu
    rất muốn nói một câu: “Con xin lỗi mẹ”, mà không còn cơ hội nữa. Sau này, cậu cố gắng
    học tập, cậu có rất nhiều, rất nhiều tiền, rồi sửa sang phần mộ của mẹ nhiều lần.
    Một hôm, cậu tham gia một cuộc trình diễn thời trang của nhà thiết kế bậc thầy. Có
    một người mẫu nam bước lên sàn diễn khiến mắt cậu bỗng căng lên, đầu óc kêu ong ong
    hỗn loạn. Bộ áo màu trắng với hai dãy khuy đồng hình chữ “vê” (V). Bên trong có phải
    là…? Cậu không làm chủ được mình, lao lên sàn diễn, lật ra xem tấm áo của người mẫu
    nam, lót bên trong tự nhiên cũng là một mảnh vải vàng! Cậu quỳ sụp trước mặt người mẫu
    nam, òa khóc thống khổ.
    Sau khi nghe cậu kể hết câu chuyện, tất cả những người có mặt tại hội trường đều
    trầm ngâm suy nghĩ mãi. Cuối cùng, một nhà thiết kế bậc thầy nói: “Thực ra, tất cả những
    người mẹ đều là các nhà nghệ thuật!”.
    (Vũ Phong Tạo dịch, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 3/2011, tr.45-46)
    GỢI Ý TRẢ LỜI
    Phần
    II

    Câu Nội dung
    VIẾT
    2
    a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
    b. Xác định đúng yêu cầu của đề
    c. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận
    HS có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo các yêu cầu
    sau:

    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    7

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: "Cúc áo của mẹ"-tác giả:
    Nhất Băng (Trung Quốc). Thể loại: Truyện ngắn.
    - Nêu khái quát về ý nghĩa của tác phẩm: Câu chuyện sâu sắc về tình
    mẫu tử, thể hiện sự hy sinh thầm lặng của người mẹ và sự hối hận
    muộn màng của đứa con.
    2. Thân bài:
    a. Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm:
    * Phân tích hiện thực đời sống:
    - Tác phẩm tái hiện đời sống khó khăn, thiếu thốn của một gia đình
    lao động nghèo. Người mẹ chắt chiu từng chút để con được mặc quần
    áo mới trong sinh nhật, nhưng vẫn phải chắp vá vì không đủ tiền.
    - Qua chiếc áo, ta thấy sự khó khăn về mặt vật chất của gia đình và
    sự cố gắng của người mẹ để đáp ứng mong ước của con.
    * Hình tượng con người:
    - Người mẹ:
    + Hết mực yêu thương con, dù nghèo khó nhưng vẫn nỗ lực làm tất
    cả để con được vui. Từ việc tỉ mỉ may chiếc áo với tình yêu thương,
    người mẹ thể hiện sự hy sinh thầm lặng. Mẹ không chỉ là một người
    phụ nữ khéo léo mà còn là biểu tượng cho sự hy sinh vô điều kiện.
    + Khi thấy con cắt áo, mẹ không trách phạt, chỉ im lặng với nỗi đau
    khổ sâu kín.
    - Người con:
    + Đứa trẻ trong sáng nhưng cũng đầy tự ti và nóng nảy. Mongmuốn
    được hòa nhập và khẳng định bản thân trước bạn bè khiến cậu rơi vào
    tình huống bẽ mặt, dẫn đến sự tức giận và hành động cắt nát chiếc áo.
    + Sự hối hận sâu sắc khi mẹ mất và nhận thức muộn màng về tình
    yêu của mẹ.
    + Cuối cùng, người con hiểu rằng tình yêu và sự hy sinh của mẹ là
    điều không thể đong đếm, dù có cố gắng bù đắp sau này.
    * Tư tưởng và tình cảm của nhà văn:
    - Tác phẩm nhấn mạnh giá trị của tình mẫu tử và nỗi đau của sự hối
    hận muộn màng khi đã không biết trân trọng tình yêu thương từ mẹ
    khi còn có cơ hội.
    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    8

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    - Nhà văn muốn gửi gắm thông điệp về lòng biết ơn và sự trân trọng
    đối với người mẹ trong cuộc sống.
    b. Phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác
    phẩm:
    - Cốt truyện: Cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ, với diễn biến tâm
    lý của nhân vật người con từ vui mừng đến giận dữ và cuối cùng là
    hối hận. Mạch truyện chậm rãi, dẫn dắt người đọc từ sự kiện chiếc áo
    mới đến cao trào là sự hối hận của người con sau khi mẹ mất.
    - Ngôi kể: Ngôi kể thứ ba giúp người đọc có cái nhìn khách quan về
    câu chuyện. Nhờ ngôi kể này, nhà văn không chỉ thể hiện được tâm
    lý của nhân vật mà còn khắc họa rõ nét tình cảnh gia đình và sự cảm
    thông từ người đọc.
    - Tình huống truyện: Tình huống chiếc áo mới và sự khác biệt ở hàng
    cúc áo tạo ra bước ngoặt, khiến người con bị bạn bè trêu chọc. Điều
    này dẫn đến hành động thiếu kiểm soát và sự hối hận sau đó. Đây là
    tình huống điển hình để khai thác sâu sắc tâm lý nhân vật và đẩy cao
    xung đột cảm xúc.
    - Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    + Nhân vật mẹ được xây dựng với hình ảnh người phụ nữ chịu
    thương chịu khó, tần tảo và giàu tình yêu thương. Dù không có nhiều
    lời thoại, người mẹ hiện lên qua từng hành động nhỏ nhặt như đính
    cúc áo hay không trách phạt con.
    + Nhân vật người con có diễn biến tâm lý phức tạp, từ vui sướng, thất
    vọng đến đau khổ và hối hận.
    - Ngôn ngữ: Ngôn ngữ giản dị, chân thực, phù hợp với bối cảnh đời
    sống bình dị của câu chuyện. Đặc biệt, cách miêu tả chi tiết
    chiếc áo và hàng cúc áo làm nổi bật thông điệp của tác phẩm.
    3. Kết bài:
    - Khẳng định ý nghĩa và giá trị của tác phẩm: “Cúc áo của mẹ” là câu
    chuyện cảm động về tình mẫu tử, về sự hy sinh thầm lặng của người
    mẹ.
    - Qua đó, tác phẩm nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng và yêu thương
    cha mẹ khi còn có thể, đừng để sự hối hận trở nên muộn màng.
    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    9

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9

    TUẦN 22

    TIẾT 43, 44 KHÁT VỌNG CÔNG LÝ( TRUYỆN THƠ NÔM)

    I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm).
    Đọc văn bản sau:
    Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
    Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.
    Nỗi nàng canhcánh nào quên,
    Vẫn còn quanhquẩn người tiên khéo là?
    Bướm kia vương lấy sầu hoa.
    Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
    Có khi gẩy khúc đàn tranh,
    Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.
    Cầu hoàng tay lựa nên vần,
    TươngNhư lòng ấy, Văn Quân lòng nào!
    Có khi chuốc chén rượu đào,
    Tiệc mời chưa cạn ngọc giao đã đầy.
    Hơi men không nhắp mà say,
    Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.
    Có khi ngồi suốt năm canh
    Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương.
    Lặng nghe những tiếng đoạn trường,
    Lửa tình dễ đốt, sóng Tương khôn hàn.
    Có đêm ngắm bóng trăng tàn,
    Tiếng quyên hót sớm, trận nhàn bay khuya.
    Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,
    Nỗi riêng, riêng biết, dã dề với ai!
    (Bích Câu kì ngộ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015)
    Thực hiện yêu cầu:
    Câu 1 (1,0 điểm). Chỉ ra những đặc điểm của truyện thơ Nôm trong văn bản.
    Câu 2 (1,0 điểm). Nội dung chính của đoạn truyện thơ trên là gì?
    Câu 3 (1,0 điểm).Nhân vật Tú Uyên hiện lên qua đoạn trích là người như thế nào?
    Câu 4 (1,0 điểm). Từ đoạn trích, bạn có thể rút ra điều gì về cảm xúc và chủ đề chính của
    tác phẩm?
    Câu 5 (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng
    5 - 7 câu) so sánh hai đoạn thơ nói về tâm trạng tương tư của Tú Uyên trong Bích Câu kì
    ngộ và của Kim Trọng trong Truyện Kiều:
    - Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
    Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.
    Nỗi nàng canh cánh nào quên,
    Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là?
    (Bích Câu kì ngộ)
    - Chàng Kim từ lại thư song
    TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

    10

    Bài tập tăng cường Ngữ văn 9
    Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
    Sầu đong càng lắc càng đầy,
    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
    (Truyện Kiều)
    II. PHẦN VIẾT(4,0 điểm)
    Em hãy viết bài văn phân tích, đánh giá nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của trích
    đoạn sau:
    Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm Nhỏ về ngã ba
    Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ tên Diễm Thương nghe hay, mà
    khuôn mặt cũng hay, không đẹp nhưng bình thản, lạnh trơ, vui buồn không ra, đố ai biết
    nó nghĩ gì. Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười
    héo hắt, “Ăn bám mà kéo theo cả bầy”. Thàn cười hề hề, bảo “Ông Năm, bạn anh. Dễ
    thương lắm”.
    Đêm đó ông già không ngủ được, thằng Thàn đi chơi nửa đêm mới mò về, thấy ông
    khọm rọm ngoài vách mùng, điếu thuốc cháy lập loè soi bộ râu xơ xác. Thàn mở dây giày,
    hỏi, “Nhớ đoàn quá, ngủ không được hả tía?”. Ông già lắc đầu, thở dài, nghe buồn xao
    xác như lá rụng hoa rơi, than điệu nầy hổng biết cách nào tìm cho ra con Cải.
    Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm, đã đi qua chợ qua đồng, tới rất nhiều quê
    xứ. Lúc nhỏ Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi nó làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà.
    Rồi con nhỏ không quay lại, vợ ông khóc lên khóc xuống, bảo chắc là ông để bụng chuyện
    nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua. Ông lấy trời đất, thần phật,
    rắn rít và cả kiếp sau (mặc dù cũng chưa biết nó ra làm sao) ra thể nhưng bà không tin,
    giận chẳng nhìn, chớ thèm cười nói. Người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một
    chỗ đất nào, họ ùn ùn lại coi. Ông khăn gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm
    được con Cải về.
    Ai dè, biển người mênh mông. Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc,
    để trước giờ diễn, ông mượn cái micro nói vài câu “Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con...”. Bữa
    nào thằng Thàn nhớ nhà, nghe câu ấy nó cũng rướm nước mắt, bảo “Con thương ông già
    con quá, tía ơi”. Hôm đi ba Thàn còn cầm cây rượt nó chạy ngời ngời, nhảy xuống đò, nó
    ngoái lại nói để con làm ca sĩ nổi tiếng cho ba coi, thấy ông dứ cây lên trời. Hai năm, ông
    già đã chỏng đầu cây xuống đất, tựa vào đó để bước đi, tên tuổi Thàn mờ mịt. Thàn bùi
    ngùi, người ta Quách Phú Thành nổi tiếng Hồng Kông, tui thiếu có chữ h, lẹt đẹt bên hông
    Chợ Lớn. […]
    Ông Năm đi ăn trộm chớ đâu. Ông lội bộ gần năm cây số trong mưa sụt sùi vô trong
    xóm, ghé chỗ lò mổ, dắt đôi trâu đem đi. Ông làm gọn gàng như với đôi trâu ở nhà. Sáng
    ra ông trở lại, ghé đúng ngôi nhà có hàng so đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang
    tạo tác đứng ngồi, ông hỏi, mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la
    lên, trời ơi, bắt ổng lại, ổng ăn trộm của tôi. Ông Năm giả đò hết hồn, nhưng trong bụng
    thấy trúng ý, bảo, từ từ, tui có chạy đâu mà sợ. Từ nhà người ta đưa ông lên ấp, ấp giải lên
    xã, ông ra bộ sợ sệt, luôn miệng nhắc, mấy chú nhớ kêu đài truyền hình xuống nghen, phải
    quay tui để dân người ta cảnh giác. May, đài tỉnh xuống thật, phóng viên một tờ báo cũng
    chạy xổ theo, dọc đường hăm hở rút sẵn tít “Tên trộm đãng trí”. Họ phỏng vấn ông chủ lò
    mổ, phỏng vấn trưởng
     
    Gửi ý kiến